Cách đây khoảng 18 năm tại miền thượng du Bắc Việt giáp ranh Trung Hoa, có một gia đình nọ chuyên môn ngải độc để hại người cầu lợi cho mình. Có thể nói là nghề nuôi con ngải độc của gia đình này gần như cha truyền con nối đến mấy đời. Dân trong vùng thỉnh thoảng vài năm lại có một người chết vì bịnh lạ và cứ như vậy, đời này qua đời khác mà không ai tìm ra nguyên nhân của căn bệnh. Hầu hết những người chết vì bệnh lạ. Căn bệnh rất giống nhau. Khi chết thì cả người bầm tím, tay chân co quắp lại và mắt thì trợn dọc lên trông dễ sợ!
Nhiều người mê tín dị đoan, thì cho rằng vùng này bị “ma hành quỷ lộng” nên bày ra lễ lớn lễ nhỏ đểcúng vái. Cho đến một ngày nọ, cả một gia đình sáu người ngã ra chết hết năm người, chỉ còn lại một người đàn bà độc nhất là không chết và cũng nhờ cái chết thảm của gia đình đó mà người ta mới phát giác được những cái chết về trước do đâu mà có.
Chuyện xảy ra như sau:
Gia đình ông Nhiếp (chúng tôi xin tạm đặt tên giả cho nhân vật) là một gia đình giầu có nhất vùng, quanh năm tài vật dư ăn dư để, ruộng rẫy trắm sào, nhà cửa đôi ba căn lớn. Ông Nhiếp lại được tiếng là có lòng nhân, biết cứu đời và giúp người nghèo khó; không riêng gì ông Nhiếp được tiếng tốt như vậy mà ngay đến cả đời trước, mẹ cha và tổ phụ của ông cũng được tiếng khen phục của người đời.
Một gia đình được tiếng khen truyền đời như vậy thực là hiếm có, cho nên dân trong vùng rất nể trọng gia đình ông Nhiếp. Năm đó ông Nhiếp tuổi vào 45, ông có một vợ và ba con trai. Con trai đầu vừa đúng 23 tuổi và con trai nhỏ nhất của ông thì được 16 tuổi. Người con trai đầu của ông Nhiếp tên là Nhiêm, vừa cưới vợ được gần năm tháng. Vợ của Nhiêm tên là Lý và Lý chính là bắt nguồn của câu chuyện.
Từ ngày nàng Lý về làm dâu gia đình ông Nhiếp, nàng ta bắt đầu khám phá ra gia đình ông Nhiếp có một nếp sống kỳ lạ gần như bí ẩn, ngay đến cả người chồng đầu gối tay ấp của Lý cũng luôn luôn tỏ ra khó hiểu! Tâm lý người đời là một khi thấy chuyện gì khó hiểu lạ lùng thì lại rất ưa tìm hiểu; trường hợp của nàng Lý cũng vậy. Nhiều lần Lý thủ thỉ hỏi chồng:
– Mình à, tôi thấy hình như nhà mình có chuyện gì bí ẩn mà thấy mẹ cũng như mình và các chú (em của chồng) đều giấu tôi phải không? Đã là chồng vợ thì mình nói cho tôi biết đi.
Nghe Lý hỏi, Nhiêm (chồng Lý) trả lời một cách mập mờ rằng:
– Ối, có chuyện gì đâu mà bí ẩn. Chẳng qua là chuyện làm ăn đó thôi. Mình đừng có gấp biết tìm hiểu làm gì. Một ngày nào rồi tôi sẽ kể cho mình nghe, chứ bây giờ thì chưa tiện…
– Mình bảo là không bí ẩn, mà tại sao mỗi lần tôi đi chợ thì thấy mẹ hoặc mình đều dặn bảo tôi mua nhiều thịt sống, nhưng khi mang thịt về thì không cho tôi nấu nướng lại mang lên nhà trên đưa vào bàn thờ làm gì thế? Đã vậy, cả nhà đều dặn bảo và ngăn cấm không cho tôi vào nhà thờ là ý làm sao? Không lẽ công chuyện làm ăn mà bí hiểm đến như vậy hay sao? Vậy chứ thịt sống tôi mua về ai ăn mà hết?
Nhiều lần hỏi chồng như vậy và lần nào cũng bị chồng gạt đi để nói sang chuyện khác, nên sự thắc mắc hoài nghi đối với Lý càng ngày càng lớn dần theo năm tháng. Không dừng được, Lý lập tâm sẽ tìm hiểu. Một hôm sau khi đi chợ mua thịt cho chồng rồi Lý làm bộ đi ra nhà sau. Thấy vợ không quan tâm, người chồng liền mang thịt heo đem lên nhà trên rồi đi vào bàn thời. Dưới bàn thờ có để một chiếc lu lớn có đậy nắp cẩn thận. Nhiêm (chồng Lý) nhẹ nhàng thận trọng mở nắp lu lên miệng lẩm nhẩm đọc:
Lưỡng độc xà lưỡng độc xà
Mi ở nhà ta, mi ở nhà ta
Đói ăn khát uống
Ta nuôi cho mi sống
Mi giúp cho ta nên
Tài lộc ta vững bền
Ta và mi cùng hưởng
Đọc xong, Nhiêm thả thịt heo vào lu rồi đậy nắp lại và thong thả đi ra nhà ngoài để làm những công việc như thường lệ, và yên chí là vợ mình chẳng hề hay biết! Nhưng Nhiêm đâu có ngờ rằng chính trong khi mà Nhiêm vào bàn thờ dở nắp lu lên miệng lẩm nhẩm
mấy câu thơ khó hiểu đó, rồi bỏ thịt vào lu đậy nắp lại, thì cũng chính là lúc mà Lý đứng ở ngoài hè rình rập dán hai mắt vào một lỗ nhỏ của vách nhà (vách đan bằng nứa tre) để nhìn xem động tịnh của Nhiêm, và Lý đã thấy rõ nghe rõ tất cả.
Không thấy thì thôi, mà đã thấy và đã nghe thì Lý lại càng thắc mắc nhiều hơn nữa và chỉ mong cho cả nhà đi vắng là thế nào cũng phải lên bàn thờ dở lu ra xem cho biết sự gì ở trong đó? Lý rắp tâm chờ đợi trong sự nôn nóng, ngày một rồi ngày hai và cho đến một hôm thì cơ hội tốt đối với Lý đã đến…
Hôm đó cả nhà đều đi vắng. Cha mẹ chồng Lý và Nhiêm cùng hai cậu em chồng đều ra rẫy để hái đậu, còn lại một mình Lý ở nhà thực là vững bụng. Sau khi chạy ra ngà ngoài nhìn trước nhìn sau không có ai, Lý cài cổng cẩn thận rồi đi nhanh vào bàn thờ thận trọng dở nắp lu lên nhìn xem. Một cảnh tượng hãi hùng khiến Lý phải tái xanh mặt, tay chân run rẩy, vội vàng đập nắp lu lại?! Số là khi nhìn vào trong lu, Lý thấy một đôi rắn xanh to lớn nằm cuộn tròn ở trong lu, miệng há rộng ra như đớp mồi.

Hoảng quá, Lý chạy nhanh ra nhà ngoài, và sau vài phút trôi qua, Lý bình tĩnh lại và tự nghĩ: “Không hiểu vì sao gia đình chồng mình lại nuôi rắn, và nuôi rắn để làm gì?” Tâm hồn Lý vốn mộc mạc chất phát, nàng nghĩ tiếp: “Chẳng biết là nuôi rắn để làm gì, nhưng loài rắn là loài độc, ta cần phải giết nó đi mới được!” Nghĩ là làm. Lý liền trở xuống nhà bếp đun ngay một nồi nước sôi to lớn. Sau khi nước sôi, Lý bê nhanh lên nhà thờ mở nắp lu rồi bất ngờ nghiêng nồi nước sôi đổ úp vào lu rắn. Đôi rắn xanh bị nước sôi liền quẫy chết. Giữa lúc đó, ngoài rẫy đậu hai vợ chồng ông Nhiếp và Nhiêm cùng hai em trai đang hái đậu bỗng dưng thét lên một tiếng lớn rồi ngã lăn ra tay chân co quắt, mắt trợn dọc, miệng ứa máu tươi, thân thể tím lịm dẫy chết tức khắc!
Những người làm rẫy ở cạnh đó trông thấy đổ xô lại cứu chữa, nhưng vô phương vì họ đã chết ngay. Tin gia đình ông Nhiếp cả năm người đều bị dẫy chết bất đắc kỳ tử được loan truyền rất nhanh. Người phụ nhau khiêng những xác chết về nhà, trước sự sợ hãi thất thần của nàng Lý. Lý như người điên loạn, hết ôm xác chồng khóc thét kêu la, lại ôm xác cha mẹ chồng và hai cậu em chồng gào khóc. Trước thảm họa tày trời đó, mọi người chung quanh bắt đầu đặt nghi vấn. Kẻ thì đưa ra giả thuyết nầy, người thì lập luận nọ, có kẻ thì cho rằng “bị ma hành quỷ lộng”. Cuối cùng một giả thuyết được chấp nhận rất tai hại cho nàng Lý?
Đó là giả thuyết bị đầu độc, và người bị tình nghi bỏ độc chính là nàng Lý ta. Thế là nàng Lý bị bắt giữ để điều tra, còn lại năm cái xác thì được dân trong vùng họp lại tẩn liệm chôn cất. Thói thường “tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đường” và cũng chính nhờ miệng thế gian đồn đãi mà nàng Lý nhờ đó cởi mỏ được oan tình.
Số là có một ông thầy địa lý người Tầu rất am hiểu về ngải nghệ và trùng độc đi ngang qua vùng này, nghe tin truyền là một gia đình năm người bị chết bất kỳ do sự đầu độc của nàng dâu, nên ông ta có vẻ thắc mắc nghi ngờ, tìm đến nhà chức trách để xin được hỏi thăm tội phạm với những lý lẽ mà ông ta cho rằng chưa hẳn là một vụ đầu độc.
Thực ra thì nhà chức trách cũng đã ngờ như vậy nhưng vì chưa có yếu tố chính xác vế cái chết của toàn gia ông Nhiếp, nên buộc lòng phải giữ nàng Lý để điều tra và càng điều tra thì càng thấy rõ nàng Lý không phải là tội phạm. Trước nghi vấn nan giải đó của nhà chức trách, thì đột nhiên ông thầy xuất hiện và trình bày sự ngờ vực của mình. Ông thầy Tầu nói:
– Đây có thể là một trường hợp nuôi độc bị phải độc. Bởi vì chỉ có cái chết bị con ngải độc cắn hoặc phản độc ngải thì thân mình mới bầm tím co quắp và trợn mắt lên mà thôi. Quả nhiên sau khi gặp nàng Lý, ông thầy Tầu gặng hỏi Lý là có thấy trong gia đình chồng có sự gì khác lạ, chẳng hạn như nuôi chuột bạch, rắn, sâu lớn hay không?
Nàng Lý lúc bấy giờ đã trở lại trạng thái bình thường, ngoài sự khổ đau vì đại tang rất lớn, nên khi được hỏi, nàng ta sực nhớ đến đôi rắn xanh ở trong lu đã bị mình giết, bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện từ khi mình về làm dâu nhà ông Nhiếp, thấy chuyện lạ đến khi phát giác ra đôi rắn ở trong lu, rồi nấu nước sôi đổ vào giết đi. Tất cả nàng Lý kể lại rất rõ ràng cho nhà chức trách sở tại và ông thầy Tầu nghe.
Nghe xong câu chuyện của nàng Lý kể, ông thầy Tầu gật gù và quay sang nói cho nhà chức trách biết, thủ phạm giết chết cả gia đình chồng chính là nàng Lý! Và nàng Lý cũng chính là cứu tinh của dân trong vùng và ông giải thích rằng:
– Chính gia đình ông Nhiếp đã nuôi ngải trùng độc để hại người cầu lợi cho mình!
Con độc sống với chủ rất trung thành và luôn luôn làm theo lệnh chủ. Suốt ngày nằm một chỗ, nhưng khi chủ sai khiến thì dù phải vượt xa hàng trăm cây số, con độc cũng vượt đi. Mỗi người nuôi độc đều có thứ tiếng nói riêng với con độc. Và trung bình ba năm người nuôi độc phải dùng con độc để giết chết một người có như thế sự làm ăn mới phát đạt được. Cách thức giết người thì tùy theo cách điều khiển của chủ độc. Chỉ cần con độc cắn vào người nào là người đó chết ngay. Một khi người chủ độc không muốn nuôi độc nữa thì phải sắm đủ lễ lộc gồm có đèn nhang, 24 con gà sống, một thúng gạo nếp, chờ đến canh khuya mang con độc cùng với các lễ vật sắm sẵn đi về hướng Đông cách xa nhà trên 3 cây số, tìm một khoảng đất trống đặt lễ vật xuống, đốt nhang đèn cúng vái tứ phương rồi thả gà ra và luôn con độc. Thả độc xong, chủ độc im lặng bỏ về nhà bằng con đường khác mà không đi theo lối cũ.
Từ đó con độc sống chết ra sao, hoặc đi đâu không ai biết. Có điều chắc chắn là con độc không hại người nữa.
Có một cách để biết nhà có nuôi độc là khi vào nhà người ta chỉ cần úp chiếc nón xuống đất là biết ngay, bởi chủ độc sẽ vội vàng dở chiếc nón lên và lật ngửa ra đem cất chỗ khác. Nếu không dở nón lên cất thì con độc sẽ phát lên tiếng kêu kỳ quái và tìm đủ mọi cách để thoát ra bò quanh chiếc nón cho bằng được?!
Sau khi nghe lời giải thích của ông thầy Tầu, nhà chức trách sở tại liền cùng ông thầy Tầu đi với nàng Lý về nhà ông Nhiếp mở lu ra xem. Quả nhiên thấy có đôi rắn xanh chết sình thúi ở trong lu. Và ông thầy Tầu giải thích thêm rằng: gia đình nào nuôi độc, thì tánh mạng mình gắn liền với con độc. Nếu vì bất cứ một lẽ gì mà con độc chết thì tất cả gia chủ đều chết theo tức khắc. Sở dĩ nàng Lý giết độc mà nàng ta không chết theo gia đình chồng là vì nàng là người được gia đình chồng xem như ngoài cuộc.
Thế là nàng Lý được tha nhờ ông thầy Tầu và dân trong vùng mới biết được sở dĩ lâu nay trong vùng có người chết vì bệnh lạ tất cả đều do bàn tay hạ độc của gia đình ông Nhiếp. Từ đó họ mới an tâm làm ăn và xem nàng Lý như cứu tinh của họ.
Trên đây là câu chuyện có thực xảy ra ở Lai Châu thuộc vùng thượng du Bắc Việt cách đây gần hai mươi năm hơn. Ngày nay, sự văn minh đã cảm hóa được con người nên lối dùng độc theo kiểu này cũng không còn nữa. Đó cũng là một sự may lớn cho xã hội vậy.
Đến đây chúng tôi xét thấy tập khảo luận phóng sự về ngải nghệ cũng có hơi dài nên xin chấm dứt với một lời khuyên chân thành gửi đến quý vị rằng: “Ở đời, sự thành công hay thất bại tất cả đều do ở sự cố gắng làm việc của mình. Nếu có thể nhờ được ngải nghệ để cứu vãn tình thế, xoay đổi cuộc cờ thì đó chỉ là sự tạm thời mà thiếu hẳn sự bền bỉ. Ngoài những trường hợp bất khả kháng tốt hơn không nên dùng ngải nghệ”.
Huỳnh Liên Tử

